Anh Đào Duy Tùng đã đi đến chốn vĩnh hằng. Đảng và Nhà nước ta, các bạn và đồng chí của anh tiếc và thương anh, một cán bộ lãnh đạo có tài năng, một nhà lý luận Mác – Lênin uyên bác, một đảng viên tận tụy, một người bạn chí tình.

Tôi đã được làm việc với anh Tùng từ giữa những năm 60, khi cùng công tác ở Ban nghiên cứu lý luận do đồng chí Trường Chinh phụ trách. Tôi luôn quý mến anh Tùng – không kể anh ở đơn vị công tác nào, vì thấy ở anh những giá trị quý báu về nhân cách, về thái độ chân thành, nhân hậu, về cuộc sống thanh đạm và giản dị. Bạn bè và đồng chí tin yêu anh, không phải vì quyền uy mà anh có, mà vì anh có và giữ được những phẩm chất tốt đẹp.

Tôi được nghe anh Đào Duy Tùng giảng bài về thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội tại lớp nghiên cứu chính trị ngắn hạn do Trung ương Đảng mở, đầu năm 1958 tại Trường Đại học Nhân dân (ấp Thái Hà – Hà Nội). Anh nói rành mạch, dễ hiểu, không văn hoa, không chỉ khẳng định một cách đơn giản những kết luận đã có, mà còn đưa ra những dẫn chứng thực tế, phân tích có lý luận và thực tiễn của đường lối, mối quan hệ giữa nguyện vọng, yêu cầu và những khả năng có thể xảy ra. Ngay lúc đó, tôi đã thấy ở anh những tố chất của một nhà khoa học, một nhà lý luận có suy nghĩ sâu sắc, có đầu óc thực tế. Gần 40 năm sau, tại lớp bồi dưỡng đường lối quan điểm của Đảng tháng 9 năm 1995, tôi lại được nghe anh Đào Duy Tùng – lúc này là Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng – trình bày vấn đề “Con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Tôi rất chú ý đến lập luận sau đây của anh Tùng: “Hình thành quan niệm về Chủ nghĩa xã hội và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình gian khổ. Đảng ta đã chỉ ra định hướng Xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của đất nước. Nhưng cùng với mục tiêu, định hướng phải tìm ra những phương pháp, hình thức, bước đi để thực hiện định hướng ấy, để có được “lộ trình” trên con đường đi tới Chủ nghĩa xã hội. Muốn vậy, phải dựa vào tinh thần cách mạng và phương pháp khoa học mà phân tích, khái quát thực tiễn sinh động ở nước ta, từ thực tiễn của nước ta mà rút ra những kết luận mới và đúng, chứ không phải từ sách vở”. Cách trình bày của anh Tùng đã thể hiện một phần tư duy lý luận Mác-xít của Đảng ta.

Trong nhiều năm, tôi được cùng anh Đào Duy Tùng làm việc trên lĩnh vực tư tưởng và lý luận, gần đây nhất là trong việc chỉ đạo Biên soạn Bộ sách giáo khoa mới về Chủ nghĩa Mác – Lênin. Anh Tùng đã làm phận sự Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo một cách nghiêm túc và với thái độ say mê nghiên cứu khoa học. Tuy bề bộn công việc ở Bộ Chính trị, Ban Bí thư, anh đã trực tiếp đọc nhiều bản thảo của các tác giả, trực tiếp chỉ đạo các cuộc thảo luận về nội dung chính trị và lý luận của các vấn đề được đặt ra qua các bản thảo ấy. Anh khuyến khích các nhà nghiên cứu lý luận độc lập suy nghĩ, thẳng thắn nêu ra những đề nghị bổ sung, điều chỉnh nhận thức và các trình bày về chủ nghĩa Mác – Lênin cho sát với thực tiễn cuộc sống mới. Thái độ chân tình và khoa học của anh đã cổ vũ anh em rất nhiều.

Tôi được cùng anh Đào Duy Tùng làm việc trong Bộ phận chuẩn bị văn kiện các Đại hội IV, V, VI của Đảng. Anh đã đóng góp rất nhiều công sức vào việc hình thành những nhận thức mới, quan niệm mới, hay nói cách khác, vào sự đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy là điều kiện cơ bản của người lãnh đạo để xây dựng các đường lối, chính sách, chủ trương phù hợp với tình hình, yêu cầu mới. Trong công việc này, anh rất chịu khó tìm hiểu thực tế, đọc tài liệu, trao đổi ý kiến, thẳng thắn nêu ra các đề nghị bổ sung nhận thức, đường lối, chính sách. Anh Tùng là người tôn trọng nguyên tắc, coi trọng quy chế, quy trình làm việc, nhưng không máy móc, cứng nhắc.

Anh Tùng sống giản dị, yêu thích tự nhiên. Mấy năm 1973 – 1974 và đầu năm 1975, bộ phận chuẩn bị Văn kiện Đại hội IV làm việc ở khu biệt thự Hồ Tây. Anh Đào Duy Tùng lúc đó là Phó Ban Tuyên giáo Trung ương – tham gia công việc chuẩn bị Đại hội rất đều đặn, nhiều ngày ăn nghỉ ở Hồ Tây. Lợi dụng khu biệt thự có nhiều cây, nhiều hoa, anh đã “kiến thiết” một tổ ong ngay tại một ban công của nhà khác. Anh chăm sóc tổ ong rất cẩn thận theo quy tắc kỹ thuật. Anh em trong Bộ phận văn kiện đã nhiều lần được thưởng thức mật ong Hồ Tây của anh Tùng. Hồi đó, thỉnh thoảng tôi được anh Tùng tặng cho quả mít hay một quả bưởi ngon của quê anh – làng Cổ Loa, Đông Anh.

Đại thắng mùa xuân 1975 đã làm thay đổi kế hoạch chuẩn bị Đại hội IV của Đảng. Đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ Nhất của Đảng lúc bấy giờ – chỉ đạo Bộ phận văn kiện tạm dừng việc Biên soạn, đi ngay vào miền Nam quan sát tình hình thực tế mới, để bổ sung – đúng ra là viết lại – Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội IV, Đại hội của chiến thắng và Thống nhất đất nước.

Trung tuần tháng 5 năm 1975, đoàn xe của Bộ phận văn kiện lên đường vào Nam đi dọc quốc lộ 1, từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh, rồi đến Cà Mau, đến một số tỉnh miền Tây, miền Đông Nam Bộ. Anh Tùng và tôi ngồi cùng xe. Suốt gần 4 tuần lễ vừa đi vừa nghỉ, vừa tham quan và gặp gỡ cán bộ, nhân dân ở các tỉnh, huyện trên đường đi, chúng tôi say sưa tìm hiểu, quan sát, thích ứng và choáng ngợp trước vẻ đẹp và sự phong phú của đất nước, trước không khí hứng khởi và sôi động đến cao độ của quân và dân cả nước. Anh Đào Duy Tùng hồi đó rất khỏe, ăn tốt, ngủ tốt, tập thể dục rất đều, rất ham môn “trồng cây chuối”. Ngồi trên chiếc “Com măng ca” cắm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chúng tôi nói chuyện lớn và nhỏ, chung và riêng nảy sinh từ chiến thắng và thống nhất đất nước. Anh Tùng chăm chú quan sát và suy nghĩ, rất phấn khởi và lạc quan, nhưng thận trọng, không có những nhận xét hấp tấp, vội vàng.

Anh Tùng và tôi đã giành một buổi sáng giữa tháng 5 năm 1975 đi dọc, đi ngang trong sân bay Tân Sơn Nhất, để tìm con trai lớn của anh Tùng lúc đó là chiến sĩ Quân giải phóng làm công tác Chính trị ở một Sư đoàn. Không thấy ở Tân Sơn Nhất, chúng tôi tìm hỏi mãi rồi mới thấy “Chàng chiến sĩ đó” ở một Doanh trị ở Hóc Môn. Bố con anh Tùng gặp nhau hồ hởi trong không khí rất nhiệt tình, của đơn vị bộ đội đón tiếp chúng tôi.

Tôi cũng như các đồng chí thân thiết với anh Đào Duy Tùng rất buồn khi biết anh mắc bệnh hiểm nghèo. Anh Tùng đã được Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V chăm sóc hết sức chu đáo, tạo điều kiện để anh được điều trị với hết khả năng mà ta có. Bản thân anh Tùng cũng cố gắng hết mình, giữ vững tinh thần và nghị lực để chiến thắng bệnh tật. Đầu năm 1985, nhân chuyến thăm Liên Xô, tôi đến thăm anh Tùng đang điều trị tại bệnh viện Trung ương của Chính phủ Liên Xô. Tôi rất buồn khi gặp anh Tùng đang ngồi một mình trên ghế đá trong sân bệnh viện, mặt xanh nhợt, đầu trọc lốc (vì dùng nhiều hóa chất). Anh nói chuyện với dáng mệt mỏi, nhưng tỉnh táo, vẫn quan tâm đến thời cuộc ở Liên Xô, ở nước nhà, đến việc chuẩn bị Đại hội VI của Đảng. Tôi không thấy ở anh một chút nào chán nản, thất vọng. Cuối năm 1985, tôi rất mừng thấy anh ra viện trở về nước, sức khỏe hồi phục, tóc mọc trở lại và tham gia ngay vào việc chuẩn bị nội dung Đại hội.

Anh Tùng rất có nghị lực rèn luyện thân thể, thực hiện chế độ ăn uống để giữ sức khỏe, và thực tế đã giữ được sức khỏe khá tốt trong 10 năm từ sau khi chữa bệnh ở Liên Xô về. Ngày nào cũng vậy, khoảng gần 6 giờ sáng, tôi lại gặp anh lững thững đi bộ trên đường Nguyễn Cảnh Chân, từ Câu lạc bộ Ba Đình về nhà sau khi tập thể dục. Nhưng anh Tùng đã vi phạm một điều là không giữ được chế độ làm việc vừa sức với người đã cao tuổi, lại mới vượt qua một chặng nguy khốn về bệnh tật.

Tôi viết mấy kỉ niệm, mấy mẩu chuyện về anh Đào Duy Tùng sau khi anh đã ra đi, với tình cảm đối với một trong những cán bộ của Đảng mà tôi quý mến nhất, vì sự nghiệp của anh, trí tuệ của anh mà nhất là vì con người anh, tính chân thực của anh, tình nghĩa của anh.

(Trích Tuyển tập Đào Duy Tùng –
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001)

Nguyễn Khánh

Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam