Đồng chí Nguyễn Quyết tên thật là Đào Nguyễn Quyết, sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo, ở làng Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

ĐẠI TƯỚNG – ĐÀO NGUYỄN QUYẾT

(TỨC NGUYỄN QUYẾT)

Nguyên Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Nguyên Chủ nhiệm TCCT – QĐND Việt Nam, Chủ tịch Danh dự Hội đồng liên lạc họ Đào Việt Nam

(Trích Hồi ký: “Con đường đã chọn” của Đại tướng Nguyễn Quyết,

Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân – 2004)

Võ Hoàng Mai

Đồng chí Nguyễn Quyết tên thật là Đào Nguyễn Quyết, sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo, ở làng Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Năm 16 tuổi, đồng chí tham gia phong trào Dân sinh – Dân chủ, dự mít tinh kỉ niệm ngày Quốc tế lao động mùng 1 tháng 5 (1938) ở Hà Nội.

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 chủ trương chuyển trọng tâm hoạt động về nông thôn, coi nông thôn là căn cứ địa rộng lớn của Cách mạng. Đồng chí Nguyễn Quyết chủ động về quê hương gây dựng cơ sở, nhen nhóm phong trào phản đế ở Dưỡng Phú làm chỗ dừng chân, từ đó phát triển phong trào ra các nơi khác ở huyện Kim Động và phía Nam Hưng Yên.

Năm 1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 5/1941, đồng chí được điều về Hà Nội.

Tháng 4/1942, sau khi phong trào Hưng Yên bị khủng bố gần như tan rã, từ Hà Nội, đồng chí được điều trở về Hưng Yên gây dựng lại phong trào. Đến tháng 4/1943, phong trào được phục hồi và bắt đầu phát triển, đặc biệt đồng chí đã xây dựng được hai Chi bộ (Chi bộ Dưỡng Phú và Chi bộ Tân Cầu) gồm 11 đảng viên. Đây là hai căn cứ rất quan trọng, làm chỗ dựa vững chắc để phát triển phong trào ở phía Nam Hưng Yên cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Hà Nội, trung tâm đầu não của cả nước, phong trào Cách mạng bị khủng bố trắng. Từ tháng 4/1940 đến tháng 4/1943, Thành ủy Hà Nội bị tan vỡ, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là Thành ủy không có căn cứ ở ngoại thành để làm chỗ đứng, phát triển phong trào vào nội thành.

Tháng 8/1943, Xứ ủy điều đồng chí về bổ sung vào Ban cán sự Đảng của Hà Nội, trực tiếp phụ trách xây dựng khu Căn cứ ở ngoại thành và phong trào công nhân. Nhờ có Căn cứ vững chắc ở ngoại thành, đến cuối năm 1944, phong trào cả Nội, Ngoại thành đều được phục hồi và bắt đầu phát triển. Lúc này đồng chí Nguyễn Quyết là Bí thư Thành ủy kiêm phụ trách quân sự ở Hà Nội.

Ngày 15/8/1945, khi nghe tin Nhật đầu hàng Đồng minh, Thành ủy nhận định: “Thời cơ khởi nghĩa đã đến!”. Cần phải chuẩn bị gấp!

Căn cứ vào chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Thường vụ Trung ương và quyết định chuẩn bị khởi nghĩa của Thường vụ Xứ ủy, trên cơ sở nắm vững tình hình và lực lượng của ta và địch qua các hoạt động Tuyên truyền xung phong vào tối 16 và nhất là qua việc biến cuộc mít tinh thành cuộc tuần hành lớn của ta. Với trách nhiệm là Bí thư Thành ủy, Ủy viên Quân sự trong Ủy ban khởi nghĩa, ngay tối 17/8, đồng chí Nguyễn Quyết đã cấp tốc triệu tập Hội nghị Thành ủy mở rộng, quyết định khởi nghĩa vào ngày 19/8/1945, kết hợp với áp lực của đông đảo quần chúng và đấu tranh ngoại giao, ta đã giành thắng lợi trọn vẹn.

Sau Khởi nghĩa ở Hà Nội, đồng chí Nguyễn Quyết được Thường vụ Trung ương và Xứ ủy phân công hẳn sang phụ trách Quân sự ở Hà Nội, đồng thời về xây dựng lực lượng chủ lực ở các tỉnh: Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Với cương vị là Ủy viên Quân khu ủy Khu 5, đồng chí được phân công phụ trách mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng, chiến trường chính của khu, lúc đầu là Chính trị viên, Ủy ban Quân sự, đến tháng 4/1948 là Chính ủy Trung đoàn chủ lực 108.

Từ đầu cuộc Kháng chiến toàn quốc, đồng chí Nguyễn Quyết là quân Khu ủy, trong chiến dịch Đông – Xuân – Hè 1953 – 1954, đồng chí là Ủy viên Liên khu Ba, thành viên của Bộ chỉ huy chiến dịch, trực tiếp phụ trách chiến dịch và bảo vệ vùng tự do.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, nước ta tạm thời chia làm hai miền: Miền Bắc tiến lên CNXH, miền Nam đấu tranh để hòa bình Thống nhất đất nước.

Đầu năm 1955, đồng chí Nguyễn Quyết rời Liên khu 5 tập kết ra Bắc với cương vị Chính ủy Sư đoàn 305. Cuối năm 1955, đồng chí được phân công về Quân khu Tả Ngạn. Từ đó cho đến đầu năm 1986, đồng chí lần lượt được giao trọng trách: Phó Chính ủy rồi Chính ủy Quân khu Tả Ngạn, Phó Chính ủy rồi Chính ủy Tư lệnh Quân khu Ba. Trừ một thời gian ngắn đi học, làm cố vấn quân sự ở Cu Ba, Phó Chính ủy Quân khu Trị Thiên, Chính ủy Học viện Quân sự cấp cao.

Ngày 27/4/2007, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng cao quý vì có nhiều công lao to lớn, đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành mọi trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao phó.